CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI CÁC ĐẦM TỪ BÌNH ĐỊNH ĐẾN NINH THUẬN TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY

Abstract

The research results of water quality in the lagoons from Binh Dinh to Ninh Thuan (De Gi, Thi Nai, O Loan, Nha Phu, Thuy Trieu, Nai) during 2007-2011 showed that the values of the basic parameters (Salinity: 0 - 34‰, TSS: 4.3 mg/l to 150 mg/l, pH: 6.75 to 8.3, DO: 3.99 mg/l to 8.09 mg/l, BOD5: 0.38 - 6.29 mg/l), nutrients (Ammonia: 0 - 168 μgN/l, nitrite: 0 -        51 μgN/l, nitrate: 28 - 493 μgN/l, silicate: 83 - 6040 μgSi/l), organic matters (N: 298 - 1660 μg/l, P: 12.9 μg/l to 691.9 μg/l), Fe (65 - 1850 μg/l) and coliform density (0 - 46000 MPN/100 ml) changed in a very wide range, especially in the rainy season while the values of the heavy metals (Zn: 4.7 - 23.6 μg/l , Cu: 0.5 - 5.5 μg/l, Pb: 0.1 - 4.3 μg/l) and hydrocarbon (233 - 833 μg/l) varied in the narrower range. In general, water quality in the lagoons of De Gi, Thi Nai, Nha Phu, Thuy Trieu and Nai in the dry season was better than that in the wet season while water quality in the O Loan lagoon had an opposite trend because An Hai inlet opening in this lagoon occurred in the rainy season. In the lagoons, especially Thi Nai, O Loan, Nai and Nha Phu, values of DO, TSS, ammonia, nitrate, phosphate, Fe, HC and coliform were not in the range of critical values for aquaculture and aquatic conservation, particularly during the rainy season in the top of lagoons and the river mouths discharging into the lagoon. However, environmental concerns were mainly DO, nutrient levels (especially phosphate) and coliform density.Các kết quả nghiên cứu chất lượng nước tại các đầm từ Bình Định đến Ninh Thuận (Đề Gi, Thị Nại, Ô Loan, Nha Phu, Thủy Triều, Nại) trong thời gian 2007-2011 cho thấy giá trị của các thông số cơ bản (Độ muối: 0 - 34‰, vật lơ lửng: 4,3 - 150 mg/l, pH: 6,75 - 8,3, DO: 3,99 - 8,09 mg/l, BOD5: 0,38 - 6,29 mg/l, muối dinh dưỡng (Amoni: 0 - 168 µgN/l, nitrite: 0 - 51 µgN/l, nitrate: 28 - 493 µgN/l, silicate: 83 - 6.040 µgSi/l), chất hữu cơ (N: 298 - 1.660, P: 12,9 - 691,9 µg/l), Fe (65 - 1.850 µg/l) và mật độ coliform (0 - 46.000 MPN/100 ml) biến đổi trong phạm vi rất rộng, nhất là vào mùa mưa trong khi giá trị của các kim loại nặng (Zn: 4,7 - 23,6 µg/l, Cu: 0,5 - 5,5 µg/l, Pb: 0,1 - 4,3 µg/l) và hydrocarbon (233 - 833 µg/l) biến động trong phạm vi hẹp hơn. Nhìn chung, chất lượng nước tại các đầm Đề Gi, Thị Nại, Nha Phu, Thủy Triều và Nại vào mùa khô tốt hơn so với mùa mưa trong khi chất lượng nước đầm Ô Loan có xu thế ngược lại do vào mùa mưa có hiện tượng mở cửa tại đầm này. Các đầm, nhất là  đầm Thị Nại, đầm Ô Loan, đầm Nại và Nha Phu thường có DO, vật lơ lửng, amoniac, nitrate, phosphate, Fe, hydrocarbon (HC) và coliform không nằm trong các GTGH qui định cho nước nuôi trồng thủy sản và bảo tồn thủy sinh, nhất là vào mùa mưa tại khu vực đỉnh đầm và cửa sông đổ vào đầm. Tuy nhiên, vấn đề môi trường quan tâm chủ yếu là DO, mức dinh dưỡng (nhất là phosphat) và mật độ colifor

    Similar works